Tài sản chung của vợ chồng được quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân – Gia đình 2014, như sau:
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng riêng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản.
Căn cứ tại Điều 38 Luật Hôn nhân – Gia đình 2014 quy định về việc chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân, như sau:
Nguyên tắc giải quyết tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân – Gia đình 2014, như sau:
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
Theo đó, khi giải quyết phân chia tài sản chung của vợ chồng tòa án nơi đang thụ lý vụ việc ly hôn sẽ áp dụng các quy định tại Điều này để phân chia tài sản chung của vợ chồng sao cho hai bên điều hưởng được phần tài sản mà mình sẽ hưởng sau khi quá trình ly hôn kết thúc.
Khi giải quyết các vụ phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn, thường sẽ gặp phải các vấn đề sau:
Việc xác lập yếu tố khi chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn như công sức đóng góp chưa có quy định pháp luật cụ thể về việc chia theo công sức đóng góp, thường sẽ gây khó khăn trong công tác xét xử của Tòa án. Thực tiễn đã có nhiều vụ án Hôn nhân – Gia đình liên quan đến việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn thường có kháng cáo, kháng nghị kéo dài do việc cung cấp thông tin, thu thập chứng cứ chứng minh nguồn gốc tài sản chung của vợ chồng và các nghĩa vụ chung không đầy dủ và rõ ràng.
Quyền sử dụng đất là một loại tài sản có giá trị lớn và có ý nghĩa quan trọng đối với vợ chồng. Vì thế mà những tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn luôn gay gắt. Trên thực tế có nhiều trường hợp cha mẹ tặng cho quyền sử dụng đất cho vợ chồng con nhưng không tuân thủ các quy định về hình thức do pháp luật quy định. Chẳng hạn, tặng cho nhưng chỉ nói miệng mà không có bất kỳ văn bản nào xác nhận, không có công chứng, chứng thực. Khi mà cuộc sống vợ chồng còn vui vẻ hòa thuận với nhau thì không thành vấn đề, nhưng đến khi vợ chồng bất hòa không còn hạnh phúc với dẫn đến ly hôn thì cha mẹ phủ nhận việc tặng cho hoặc nói chỉ tặng riêng cho con gái hay con trai của họ hay chỉ là cho mượn làm ăn, việc này gây ra nhiều thiệt hại và không còn công bằng cho các bên và gây cho tòa án sự lúng túng.
Việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng luôn là một vấn đề vô cùng phức tập, quy định của pháp luật không vẫn chưa cụ thể, rõ ràng còn khá là mơ hồ. Trong quá trình giải quyết Tòa án vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Trong thực tiễn xét xử, vấn đề xác định tài sản đang tranh chấp cần phân chia là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng là hết sức quan trọng. Việc xác định tài sản mà vợ chồng đang tranh chấp là tài sản chung hay tài sản riêng một cách đúng đắn trước tiên sẽ giúp lựa chọn đúng nguyên tắc để áp dụng cho việc phân chia, mặt khác các tranh chấp sẽ được giải quyết triệt để và bảo vệ quyền lợi về tài sản cho cả vợ chồng.
Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản của vợ chồng đang tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung. Có nghĩa là, người nào cho rằng đó là tài sản riêng của mình thì có nghĩa vụ phải chứng minh. Tuy nhiên trên thực tế, việc đánh giá chứng cứ để xác định tài sản riêng hay chung gặp nhiều khó khăn, chủ yếu theo nhận định chủ quan của thẩm phán.
Bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, bài viết không mang ý nghĩa tư vấn. Nếu cần tư vấn, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua email: info@barrso.com.