Quyền tự do ngôn luận là một trong các quyền cơ bản của công dân, được ghi tại Điều 25 Hiến pháp 2013 của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Cụ thể, như sau:
Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định
Điều này chứng minh quyền tự do ngôn luận là quyền cơ bản của công dân, song đồng thời cũng nhấn mạnh rằng việc thực hiện quyền này phải tuân thủ các quy định pháp luật nhằm ục đích bảo đảm được trật tự, an toàn xã hội và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước, tổ chức và cá nhân.
Mặc dù quyền tự do ngôn luận là quyền của công dân, tuy nhiên việc lợi dụng quyền tự do ngôn luận để xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhân hoặc gây tổn hại đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội là một hành vi bị nghiêm cấm. Những hành vi vi phạm phổ biến như sau:
Các hành vi trên không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân, tổ chức mà còn ảnh hưởng đến trật tự xã hội và an ninh quốc gia.
Căn cứ tại Điều 99 Nghị định 14/2022/NĐ-CP sửa đổi bổ sung Nghị định 15/2020/NĐ-CP quy định mức phạt cho hành vi phạm quy định về trang thông tin điện tử:
Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều này.
Căn cứ Điều 101 Nghị định 14/2022/NĐ-CP sửa đổi bổ sung Nghị định 15/2020/NĐ-CP quy định về vi phạm các quy định về trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hội; trang thông tin điện tử được thiết lập thông qua mạng xã hội:
Buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn hoặc thông tin vi phạm pháp luật do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này.
Ngoài các biện pháp xử phạt hành chính đã nêu, những người lợi dụng quyền tự do ngôn luận xâm phạm đến lợi ích Nhà nước, cá nhân và tổ chức còn có thể bị truy tố trách nhiệm hình sự
Theo Khoản 1 Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 sđbs 2017 quy định về tội Làm nhục người khác có thể bị phạt cảnh cáo từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm. Tùy thuộc mức độ vi phạm, phạm tội có thể bị áp dụng các hình phạt nghiêm khắc hơn nếu thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 155, cụ thể như sau:
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
a) Phạm tội 2 lần trở lên;
b) Đối với 2 người trở lên;
c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
d) Đối với người đang thi hành công vụ;
đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;
e) Sử dụng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương thức điện tử để phạm tội;
g) Gây rối loạn tâm thần hoặc hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% đến 60%
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
a) Gây rối loạn tâm thần hoặc hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên
b) Làm nạn nhân tự sát.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015 sđbs 2017 quy định về tội Vu khống có thể bị phat từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 tháng hoặc phạt từ 03 tháng đến 01 năm. Tùy vào mức độ vi phạm, người phạm tội có thể bị áp dụng các hình phạt nghiêm khắc hơn nếu thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 156, cụ thể như sau:
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Đối với 02 người trở lên;
d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;
đ) Đối với người đang thi hành công vụ;
e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
g) Gây rối loạn tâm thần hoặc hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% đến 60%;
h) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng;
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ từ 03 năm đến 07 năm:
a) Vì động cơ đe hèn;
b) Gây rối loạn tâm thần hoặc hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Làm nạn nhân tự sát.
Căn cứ Điều 331 Bộ luật Hình sự 2015 sđbs 2017 quy định về Tội lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, cụ thể như sau:
Quyền tự do ngôn luận là quyền quan trọng và cơ bản của công dân nhưng không phải là quyền tuyệt đối. Việc lợi dụng quyền tự do ngôn luận để xâm phạm quyền và lợi ích của Nhà nước và danh dự, nhân phẩm của cá nhân sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định pháp luật. Vì vậy, mỗi cá nhân cần có trách nhiệm khi phát ngôn, đảm bảo tính chính xác và phù hợp với quy định pháp luật.
Bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, bài viết không mang ý nghĩa tư vấn. Nếu cần tư vấn, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua email: info@barrso.com.