• Luật Phương NamHỏi đáp pháp luật miễn phí
  • (+84) 937.029.368
  • [javascript protected email address]
  • PROFESSIONAL - DEDICATED - EFFECTIVE

Trang chủ Tin pháp luật

Quyền tự do ngôn luận trong Hiến pháp Việt Nam và chế tài đối với hành vi lạm dụng trên không gian mạng.

  1. Quyền tự do ngôn luận trong Hiến pháp Việt Nam.

Quyền tự do ngôn luận là một trong các quyền cơ bản của công dân, được ghi tại Điều 25 Hiến pháp 2013 của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Cụ thể, như sau:

Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định

 Điều này chứng minh quyền tự do ngôn luận là quyền cơ bản của công dân, song đồng thời cũng nhấn mạnh rằng việc thực hiện quyền này phải tuân thủ các quy định pháp luật nhằm ục đích bảo đảm được trật tự, an toàn xã hội và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước, tổ chức và cá nhân.

  1. Giới hạn của quyền tự do ngôn luận và các hành vi vi phạm.

Mặc dù quyền tự do ngôn luận là quyền của công dân, tuy nhiên việc lợi dụng quyền tự do ngôn luận để xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhân hoặc gây tổn hại đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội là một hành vi bị nghiêm cấm. Những hành vi vi phạm phổ biến như sau:

  • Đưa thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống nhằm xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhân
  • Xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác thông quan phát ngôn, bình luận, hoặc hành vi bôi nhọ danh dự.
  • Kích động bạo lực, gây hạn thù giữa các nhóm người hoặc xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng.
  • Tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật đời sống hoặc thông tin cá nhân trái phép.
  • Phát tán nội dung phản động, chống phá Nhà nước.

Các hành vi trên không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân, tổ chức mà còn ảnh hưởng đến trật tự xã hội và an ninh quốc gia.

  1. Mức phạt hành chính đối với các hành vi vi phạm quyền tự do ngôn luận trên không gian mạng.

Căn cứ tại Điều 99 Nghị định 14/2022/NĐ-CP sửa đổi bổ sung Nghị định 15/2020/NĐ-CP quy định mức phạt cho hành vi phạm quy định về trang thông tin điện tử:

  1. Phạt từ 5.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đối với hành vi cung cấp không đầy đủ hoặc không chính xác thông tin về tên của tổ chức quản lý trang thông tin điện, tên cơ quan chủ quản (nếu có), địa chỉ liên lạc, thư điện tử, số điện thoại liên lạc, tên người chịu trách nhiệm quản lý nội dung trên trang chủ của trang thông tin điện tử.
  2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng đối với các hành vi sau:
  1. Cung cấp, chia sẻ đường dẫn đến thông tin trên mạng có nội dung vi phạm quy định của pháp luật;
  2. Tuyên truyền, kích động bao lực, dâm ô, đồi trụy, tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc;
  1. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến dưới 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
  1. Đưa thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm cá nhân;
  2. Đăng, phát, sử dụng hình ảnh bản đồ Việt Nam không thể hiện đầy đủ hoặc thể hiện sai chủ quyền quốc gia;
  3. Quảng cáo, tuyên truyền, buôn bán hàng hóa, dịch vụ bị cấm;
  4. Giả mạo trang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân khác;
  5. Đăng, phát các tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm mà không được sự đồng ý của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc không được phép lưu hành hoặc đã có quyết định cấm lưu hành hoặc tịch thu.
  1. Hình thức phạt bổ sung:

Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều này.

  1. Biện pháp khắc phục hậu quả:
  1. Buộc gỡ bỏ đường dẫn đến thông tin sai sự thật hoặc gây hiễm nhầm, thông tin vi phạm pháp luật đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 và 3 Điều này;
  2. Buộc thu hồi hoặc buộc hoàn trả tên miền do thực hiện hành vi vi phạm tại các khoản 2 và 3 Điều này.

Căn cứ Điều 101 Nghị định 14/2022/NĐ-CP sửa đổi bổ sung Nghị định 15/2020/NĐ-CP quy định về vi phạm các quy định về trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hội; trang thông tin điện tử được thiết lập thông qua mạng xã hội:

  1. Phạt từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để thực hiện một trong các hành vi sau:
  1. Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân;
  2. Cung cấp chia sẻ thông tin cổ súy các hủ tục, mê tín, dị đoan, dâm ô, đồi trụy, không phù hợp với thuần phong, mỹ tục của dân tộc;
  3. Cung cấp, chia sẻ thông tin miêu tả tỉ mỉ hành động chém, giết, tai nạn, kinh dị, rùng rợn;
  4. Cung cấp, chia sẻ thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong Nhân dân, kích động bạo lực, tội ác, tệ nạn xã hội, đánh bạc hoặc phục vụ đánh bạc;
  5. Cung cấp, chia sẻ các tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm mà không được sự đồng ý của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc chưa được phép lưu hành hoặc đã có quyết định cấm lưu hành hoặc tịch thu;
  6. Quảng cáo, tuyên truyền, chia sẻ thông tin về hàng hóa, dịch vụ bị cấm;
  7. Cung cấp, chia sẻ hình ảnh bản đồ Việt Nam nhưng không thể hiện hoặc không đúng chủ quyền quốc gia;
  8. Cung cấp, chia sẻ đường dẫn đến thông tin trên mạng có nội dung bị cấm.
  1. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi tiết lộ thông tin thuộc danh mục bí mật quốc gia, bí mặt đời tư của cá nhân và bí mật khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
  2. Biên pháp khắc phục hậu quả:

Buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn hoặc thông tin vi phạm pháp luật do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này.

  1. Mức phạt hình sự đối với hành vi vi phạm quyền tự do ngôn luận.

Ngoài các biện pháp xử phạt hành chính đã nêu, những người lợi dụng quyền tự do ngôn luận xâm phạm đến lợi ích Nhà nước, cá nhân và tổ chức còn có thể bị truy tố trách nhiệm hình sự

Theo Khoản 1 Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 sđbs 2017 quy định về tội Làm nhục người khác có thể bị phạt cảnh cáo từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm. Tùy thuộc mức độ vi phạm, phạm tội có thể bị áp dụng các hình phạt nghiêm khắc hơn nếu thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 155, cụ thể như sau:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Phạm tội 2 lần trở lên;

b) Đối với 2 người trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người đang thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;

e) Sử dụng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương thức điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần hoặc hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% đến 60%

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Gây rối loạn tâm thần hoặc hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên

b) Làm nạn nhân tự sát.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015 sđbs 2017 quy định về tội Vu khống có thể bị phat từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 tháng hoặc phạt từ 03 tháng đến 01 năm. Tùy vào mức độ vi phạm, người phạm tội có thể bị áp dụng các hình phạt nghiêm khắc hơn nếu thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 156, cụ thể như sau:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người đang thi hành công vụ;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần hoặc hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% đến 60%;

h) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng;

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ từ 03 năm đến 07 năm:

a) Vì động cơ đe hèn;

b) Gây rối loạn tâm thần hoặc hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Làm nạn nhân tự sát.

Căn cứ Điều 331 Bộ luật Hình sự 2015 sđbs 2017 quy định về Tội lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, cụ thể như sau:

  1. Người nào lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
  2. Phạm tội gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Quyền tự do ngôn luận là quyền quan trọng và cơ bản của công dân nhưng không phải là quyền tuyệt đối. Việc lợi dụng quyền tự do ngôn luận để xâm phạm quyền và lợi ích của Nhà nước và danh dự, nhân phẩm của cá nhân sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định pháp luật. Vì vậy, mỗi cá nhân cần có trách nhiệm khi phát ngôn, đảm bảo tính chính xác và phù hợp với quy định pháp luật.

Bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, bài viết không mang ý nghĩa tư vấn. Nếu cần tư vấn, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua email: info@barrso.com.


Bài viết liên quan
Luật Phương Nam - Phone: +84-937-029-368
barrso - Mobile: +84937029368