Pháp luật dân sự và pháp luật thương mại đều có quy định để điều chỉnh hợp đồng ký kết giữa các bên. Vậy khi nào thì hợp đồng được điều chỉnh bởi pháp luật dân sự và khi nào thì được điều chỉnh bởi pháp luật thương mại? Sự khác biệt giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại trong điều khoản phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại là gì? Bài viết này sẽ tập trung phân tích các vấn đề trên.
1. Trường hợp áp dụng pháp luật dân sự trong hợp đồng
Căn cứ Điều 4 Bộ luật Dân sự 2015 về việc áp dụng Bộ luật Dân sự:
“Điều 4. Áp dụng Bộ luật dân sự
1. Bộ luật này là luật chung điều chỉnh các quan hệ dân sự.
2. Luật khác có liên quan điều chỉnh quan hệ dân sự trong các lĩnh vực cụ thể không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này.
3. Trường hợp luật khác có liên quan không quy định hoặc có quy định nhưng vi phạm khoản 2 Điều này thì quy định của Bộ luật này được áp dụng.”
Như vậy, pháp luật dân sự sẽ được áp dụng để điều chỉnh mối quan hệ, giao dịch của các bên khi mối quan hệ, giao dịch đó chưa được quy định cụ thể bởi pháp luật chuyên ngành hoặc pháp luật chuyên ngành dẫn chiếu đến áp dụng của Bộ luật Dân sự hoặc pháp luật chuyên ngành trái với quy định của Bộ luật Dân sự.
2. Trường hợp áp dụng pháp luật thương mại trong hợp đồng
Căn cứ Điều 2, Điều 4 Luật Thương mại 2005 như sau:
“Điều 2. Đối tượng áp dụng
1. Thương nhân hoạt động thương mại theo quy định tại Điều 1 của Luật này.
2. Tổ chức, cá nhân khác hoạt động có liên quan đến thương mại.
3. Căn cứ vào những nguyên tắc của Luật này, Chính phủ quy định cụ thể việc áp dụng Luật này đối với cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh.
Điều 4. Áp dụng Luật thương mại và pháp luật có liên quan
1. Hoạt động thương mại phải tuân theo Luật thương mại và pháp luật có liên quan.
2. Hoạt động thương mại đặc thù được quy định trong luật khác thì áp dụng quy định của luật đó.
3. Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự.”
Theo đó, pháp luật thương mại được áp dụng để điểu chỉnh các hoạt động thương mại. Hoạt động thương mại được hiểu là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, xúc tiên thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.
3. Cách xác định pháp luật áp dụng cho hợp đồng
Để xác định pháp luật áp dụng cho hợp đồng cần dựa trên 02 căn cứ là chủ thể và mục đích giao kết hợp đồng.
Đối với hợp đồng dân sự, chủ thể giao kết hợp đồng là cá nhân, pháp nhân với mục đích giao kết hợp đồng nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng; hợp đồng dân sự có thể phát sinh lợi nhuận hoặc không.
Đối với hợp đồng thương mại, chủ thể giao kết hợp đồng là thương nhân hoặc tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến thương mại; mục đích giao kết hợp đồng nhằm sinh lợi.
4. Khác biệt giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại
4.1. Điều khoản phạt vi phạm
Phạt vi phạm là một trong các điều khoản để buộc các bên tuân thủ nội dung đã cam kết trong hợp đồng. Điều 310 Luật Thương mại 2005 quy định về phạt vi phạm như sau:
“Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm…”
Theo đó, luật thương mại chỉ cho phép các bên phạt vi phạm hợp đồng tối đa 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm. Ngược lại, pháp luật dân sự không đặt ra hạn mức tối đa khoản phạt vi phạm mà cho phép các bên tự thỏa thuận và ấn định mức phạt trong hợp đồng. Căn cứ khoản 2 Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015 như sau “Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác”.
4.2. Điều khoản bồi thường thiệt hại
Đối với điều khoản bồi thường thiệt hại, có sự khác biệt rõ ràng giữa pháp luật dân sự và pháp luật thương mại. Điều 302, 303 Luật Thương mại 2005 quy định bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra; căn cứ bồi thường thiệt hại gồm: (i) có hành vi vi phạm, (ii) có thiệt hại thực tế, (iii) hành vi vi phạm là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại. Căn cứ các quy định trên, luật thương mại cho phép các bên áp dụng bồi thường thiệt hại nếu có đủ các căn cứ theo luật định, không yêu cầu các bên phải thỏa thuận về bồi thường thiệt hại trong hợp đồng.
Trong khi đó, pháp luật dân sự quy định chỉ được áp dụng điều khoản bồi thường thiệt hại nếu các bên có thỏa thuận trong hợp đồng. Căn cứ khoản 3 Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp các bên có thỏa thuận áp dụng phạt vi phạm mà không thỏa thuận về bồi thường thiệt hại thì chỉ được áp dụng phạt vi phạm, không được áp dụng bồi thường thiệt hại.
Bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, bài viết không mang ý nghĩa tư vấn. Nếu cần tư vấn, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua email: info@barrso.com